Sự khác nhau giữa Phật Thích Ca Mâu Ni và Phật A Di Đà. [ đặc điểm phân biệt ]

sự khác nhau giữa Phật Thích Ca và Phật A Di Đà.



sự khác nhau giữa Phật Thích Ca và Phật A Di Đà.

Đối với các Phật tử theo đạo Phật thì thường nói câu “Nam Mô A Di Đà Phật”, xuất phát từ câu nói này mà khiến cho không ít người lầm tưởng rằng hai vị Phật Thích Ca Mầu Ni và Phật A Di Đà là cùng một người. Nhưng hai vị Phật này hoàn toàn khác nhau, tồn tại độc lập và có những đặc điểm riêng chứ không phải là cùng một vị Phật như một số người vẫn nghĩ.

Làm thế nào để có thể phân biệt đúng Phật Thích Ca Mâu Ni và Phật A Di Đà ? Vậy các quý Phật tử hãy cùng theo dõi bài viết dưới đây của chúng tôi để tìm hiểu đáp án.

Phật Thích Ca Mâu Ni.

Đây là vị Phật có thực trong lịch sử. Phật Thích Ca Mâu Ni là người sáng lập ra Phật giáo. Về cuộc đời thì Ngài chính là Hoàng Tử Tất Đạt Đa Cồ Đàm của vương quốc Thích Ca, thuộc Ấn Độ ngày nay, là Thái tử con Vua Tịnh Phạn và Hoàng Hậu Ma Da.

Năm sinh và năm mất của Phật Thích Ca Mâu Ni xác định theo theo lịch hiện đại thì không được ghi nhận rõ, trong khoảng 624 Trước Công Nguyên tới 563 Trước Công Nguyên. Tuy nhiên, đại hội Phật giáo thế giới đã thống nhất quan điểm rằng Tất Đạt Đa sinh vào khoảng năm 624 Trước Công Nguyên và qua đời vào năm 544 TCN, hưởng thọ 80 tuổi.

Theo lịch sử Phật giáo thì vào ngày mùng 8 tháng chạp âm lịch năm Nhâm Thân (đầu năm 589 TCN). Ở độ tuổi 35, Tất-Đạt-Đa đã đạt tới giác ngộ, trở thành là bậc Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, là Đức Phật Thích Ca Mâu Ni.

Trong sử Phật giáo có ghi chép lại thì Đức Phật Thích Ca Mâu Ni chính là giáo chủ cõi Ta Bà. Ngài đã từng sống trên chính trái đất này và là người đã sáng lập ra Phật Giáo đang phát triển bây giờ. Cõi Ta Bà hiểu theo ngôn ngữ của Phật giáo thì nó có nghĩa là đau khổ, và đó chính là trái đất này, là nơi mà con người chúng ta đang sinh sống.

Phật A Di Đà.

Đây là vị Phật không có thực trong lịch sử. Tuy nhiên, Phật A Di Đà lại là vị Phật được tôn thờ nhiều nhất trong giới Phật giáo Đại thừa. Tên của Ngài có nghĩa Vô Lượng Thọ, là thọ mệnh vô lượng và Vô Lượng Quang, ánh sáng vô lượng.

Đức Phật A Di Đà được xem là giáo chủ của cõi Cực Lạc Tây phương. Trong cuộc đời truyền bá đạo Phật của mình, Phật Thích Ca đã giới thiệu cho chúng sinh của mình về Đức Phật A Di Đà và cõi Cực Lạc nơi mà Đức Phật A Di Đà đang giáo hóa chúng sinh thông qua những cuốn kinh Phật.

Đức Phật Thích Ca sau khi đắc đạo, Ngài có khả năng vận dụng trí tuệ, có thể nhận thấy sự vận động của tất cả sự vật, hiện tượng, nhân sinh trong vũ trụ một cách chuẩn xác. Nhờ khả năng đặc biệt này mà Ngài thấy rõ quá trình tu hành của Đức Phật A Di Đà qua nhiều kiếp. Thấy rõ môi trường sống và đời sống sinh hoạt của chúng sinh ở Tây Phương Cực Lạc do Phật A Di Đà cai quản.

Như vậy có thể thấy rằng, chúng ta biết đến  Phật A Di Đà là qua những bài giảng của Phật Thích Ca, là vị Phật được Đức Phật Thích Ca giới thiệu.

Phân biệt Phật Thích Ca Mâu Ni và Phật A Di Đà.

Trước tiên, cần nhắc lại rằng, Phật Thích Ca Mâu Ni là vị Phật có thực trong lịch sử, Ngài là người đã sáng lập ra đạo Phật. Còn Phật A Di Đà là một vị Phật không có thực trong lịch sử, chúng ta biết đến Ngài là thông qua những bài giảng của Phật Thích Ca Mâu Ni.

Phật Thích Ca Mâu Ni

Phật Thích Ca Mâu Ni

Phật Thích Ca Mâu Ni

Có nhiều miêu tả về ngoại hình của Tất-Đạt-Đa trong các kinh điển Phật giáo. Là một vị Thái tử có đầy đủ 32 tướng tốt,  là người tốt về cả văn lẫn võ. Theo cuốn kinh số 4 thì Tất Đạt Đa được miêu tả là có ngoại hình “đẹp trai, ưa nhìn, cùng với một làn da rất đẹp. Ông ta có vẻ ngoài thần thái và oai nghiêm…” Ông đẹp đẽ, xinh tươi, dễ nhìn, một hình sắc tốt đẹp nhất, hình thể và nét trang nghiêm của ông như Brahma (Phạm Thiên), ngoại hình đẹp đẽ.”

Ông đẹp đẽ, gây được niềm tin, với ý thức điềm tĩnh và tâm trí thanh tịnh, trầm tĩnh và tự chủ, như một con voi được thuần phục một cách hoàn hảo” đây là cách miêu tả về Ngài theo kinh số 36.

Hình dáng đặc trưng: Tóc của Phật Thích Ca thì có thể là búi tó hoặc có các cụm xoắn ốc.

Phật Thích Ca mặc áo cà sa hoặc áo choàng qua cổ màu vàng hoặc nâu, trước ngực không có chữ “vạn”.

Ngài có thể ngồi trên tòa Sen, nhục kế trên đỉnh đầu, đôi mắt mở ba phần tư.

 

Tư thế tay: Tay tượng Phật Thích Ca Mâu Ni có thể đặt ngay ngắn trên đùi, hai bàn tay bắt ấn thiền, ấn chuyển pháp luân hoặc ấn kim cương hiệp chưởng…

Phật cũng có thể cầm một chiếc bát màu đen hoặc xanh đen, dấu hiệu cho giáo chủ.

Hoặc tay Phật Thích Ca ở ấn xúc địa – tay trái hướng lên, đặt ngang bụng, tay mặt chỉ xuống, lưng tay mặt xoay tới trước. Trên tay trái của Phật là một chiếc bát.

Tượng Phật Thích Ca Mâu Ni thủ ấn vô úy – tay mặt đặt ngang tầm vai, các ngón tay hướng về phía trước.

Phật Thích Ca Mâu Ni thường được minh họa cùng hai vị Tôn giả là Ca Diếp và A Nan Đà. Đây là hai vị đệ tử ưu tú của Phật Thích Ca lúc Ngài còn ở thế gian.

Phật A Di Đà.

Phật A Di Đà

Phật A Di Đà

Trong lịch sử Phật giáo, Phật A-di-đà được tôn thờ sớm nhất trong lịch sử. Thân hình của vị Phật này thường được vẽ bằng màu đỏ, tượng trưng cho màu mặt trời lặn phương Tây. Một tay của A-di-đà bắt ấn thiền định, tay kia giữ một cái bát, dấu hiệu của một giáo chủ, cũng có thể có dáng đứng với một tay Phật cầm tòa sen, một tay xòe ra đưa xuống đất, với ý nghĩa dẫn dất chúng sinh lên tòa sen về cõi Cực Lạc.

Tòa sen là biểu tượng cho sự thanh tịnh, hai con Công là biểu hiện của sự thoát hiểm, thoát khổ.
Hình dáng đặc trưng: Phật A Di Đà thì có các cụm tóc xoắn ốc trên đầu, mắt nhìn xuống dưới, miệng nở một nụ cười tỏ vẻ cảm thông cứu độ.

Ngài mặc áo cà sa màu đỏ (là biểu thị cho màu của mặt trời lặn ở phương Tây), áo có thể khoát vuông ở cổ.

Điểm khác với Phật Thích Ca là trước ngực của Phật A Di Đà có chữ “vạn”.

Tư thế tay: Với tư thế đứng, tay của Phật A Di Đà làm ấn giáo hóa – tức là tay mặt đưa ngang vai, chỉ lên, tay trái đưa ngang bụng, chỉ xuống, hai lòng bàn tay hướng về phía trước, ở mỗi tay, ngón trỏ và ngón cái chạm vào nhau tạo thành vòng tròn.

Phật A Di Đà cũng có thể ngồi trên tòa sen, tay bắt ấn thiền (tay để ngang bụng, lưng bàn tay phải nằm chồng lên lòng bàn tay trái, hai ngón cái chạm nhau). Trên tay Ngài có thể giữ một cái bát, là dấu hiệu thể hiện cho việc là giáo chủ.

Phật A Di Đà thường được minh họa cùng hai vị Bồ Tát là Quán Thế Âm cầm cành dương và bình nước cam lộ và Đại Thế Chí cầm bông sen xanh.

Quan niệm về sự so sánh giữa Phật Thích Ca Mâu Ni và Phật A Di Đà thì Phật nào lớn hơn ?

Đã là Phật thì đều là bậc chí tôn vô thượng, có tầm hiểu biết vô vàn, mang tấm lòng từ bi hỉ xả, với ước nguyện có thể cứu vớt chúng sinh khỏi những đau khổ của trần thế nên không thể so sánh rằng Phật nào lớn hơn, Phật nào rộng hơn được. Tùy vào sự giác ngộ của mỗi Phật tử thì sùng bái, tin theo bên nào hơn thì đối với những người đó, vị Phật mà họ tin tưởng để tin theo cải sửa bản thân thì bên ấy có tầm ảnh hưởng, tầm quan trọng đặc biệt với họ.

Giữa Phật Thích Ca với Phật A Di Đà cũng vậy, một bên là giáo chủ của Phật giáo, người đứng đầu cõi Ta Bà, dẫn dắt chúng sinh đi theo cái thiện, cái đúng; một bên là người dẫn dắt cõi Cực Lạc, nơi mà sẵn sàng đón nhận, cứu vớt chúng sinh trong cơn hoạn nạn, cơ cực. Nhưng chung quy lại thì có là Phật Thích Ca hay Phật A Di Đà thì các ngài đều có tấm lòng nhân hậu, đều dùng tất cả những kiến thức mà mình có được để truyền bá cho tất cả chúng sinh, với ước nguyện có thể giác ngộ những người trong cõi trần thế bi thương.

Thực tế, chúng ta cũng không cần cố gắng tìm ra xem vị Phật nào lớn nhất, vị Phật nào lớn hơn vị nào, mà tất cả các vị Phật đều kính và đáng được tôn kính. Chỉ cần chúng ta một lòng hướng thiện, một lòng hướng Phật thì đều có thể giúp chúng ta có một cái tâm an lạc, sẽ giúp cho cuộc sống của chúng ta tràn đầy những điều tốt đẹp.

Trên đây là một số chia sẻ của chúng tôi về việc phân biệt giữa Phật Thích Ca Mâu Ni và Phật A Di Đà. Hi vọng bài viết có thể giúp ích cho các bạn.

 

 

 

 

 

 

 

 

Chia sẻ cùng bạn bè

Leave a Reply

avatar
  Subscribe  
Notify of


Chat Zalo
Gọi điện ngay