Ngày vía Phật Thích Ca ? có nên thỉnh Phật về thờ tại nhà vào ngày vía Phật ? - LỘC PHÁT - Hệ Thống Đồ Thờ Cao Cấp

Ngày vía Phật Thích Ca ? có nên thỉnh Phật về thờ tại nhà vào ngày vía Phật ?


Đức Phật Thích Ca Mâu Ni - Người sáng lập ra Phật Giáo.

Ngày vía Phật Thích Ca ? có nên thỉnh Phật về thờ tại nhà vào ngày vía Phật ?

Ngày vía Đức Phật Thích Ca Mâu Ni ? Có nên thỉnh Phật về thờ vào ngày vía Phật?

Phật Thích Ca là vị Phật đã sáng lập ra Phật giáo phát triển cho đến tận bây giờ. Ngài có công đức vô lượng đối với chúng sinh, Ngài đã bằng tất cả trí tuệ, lòng nhân từ của mình để giáo hóa chúng sinh, để cứu vớt những người khó khăn trong cơn hoạn nạn, giúp cho nhân gian có một cuộc sống tốt đẹp hơn. Là một vị Phật công đức vô lượng nhưng các bạn hiểu biết bao nhiêu về Phật Thích Ca ? Trong Phật giáo có bao nhiêu ngày để tưởng nhớ Ngài ? Đó là những ngày nào ? Có chắc bạn đều biết tất cả những điều này? Sau đây chúng tôi xin cung cấp một số thông tin về Phật Thích Ca cũng như về ngày Vía của Ngài. Mời các bạn cùng tham khảo.

Cuộc đời Phật Thích Ca Mâu Ni.

Phật Thích Ca Mâu Ni là một vị Phật có thực trong lịch sử, Ngài là người đã sáng lập ra Phật giáo. Theo ghi chép lại thì Phật Thích Ca chính là Hoàng tử tên Tất Đạt Đa Cồ Đàm, họ là Kiều Đạt Ma, là con của Vua Tịnh Phạn và Hoàng Hậu Ma Da của Vương quốc Thích Ca, thuộc Ấn Độ ngày nay.

Năm sinh và năm mất theo lịch hiện đại của ông không thể xác định được một cách chính xác và không được ghi nhận rõ, dao động trong khoảng năm 624 trước Công Nguyên tới năm 563 trước Công Nguyên. Tuy nhiên, đại hội Phật giáo thế giới chung ý kiến thống nhất rằng Tất-Đạt-Đa được sinh ra vào khoảng năm 624 trước Công Nguyên và qua đời ở độ tuổi 80, tức là mất vào khoảng năm 544 trước Công Nguyên.

Cuộc đời Đức Phật Thích Ca.

                                                              Cuộc đời Đức Phật Thích Ca.

Cha ông là Vua Tịnh Phạn, người đứng đầu tiểu Vương quốc Thích-ca, một tiểu quốc nằm ở vùng biên giới Ấn Độ- Nepal ngày nay.

Trước khi vị Hoàng tử này được sinh ra thì các tu sĩ Ấn Giáo đã đưa ra lời tiên tri rằng Ngài sẽ trở thành một vị vua vĩ đại, hoặc là sẽ trở thành một vĩ nhân lừng danh thế giới loài người. Và khi biết lời tiên tri đó thì cha của Tất – Đạt – Đa, vì không muốn con trai mình sẽ trở thành tu sĩ nên đã làm đủ mọi cách để giữa Ngài ở lại trong cung điện.

Sau khi được sinh ra, Hoàng tử Tất- Đạt- Đa lớn lên trong bao bọc, xa hoa đúng nghĩa của một bậc vua chúa, Ngài không được phép nhìn thấy thế giới bên ngoài, được các vũ nữ giúp vui, và được các tu sĩ Bà La Môn dạy học. Khi đến tuổi trưởng thành, Hoàng tử kết hôn với công chúa Gia Du Đà La và có một cậu con trai.

Bức thành hoàng cung không thể ngăn cản được sự tò mò của Ngài về thế giới bên ngoài, sự hiếu kì, tò mò ấy đã lôi kéo Ngài ra với thế giới giới rộng lớn bên ngoài hoàng cung.

Ở ngoài đó, trên những đường phố của kinh thành Ca Tỳ La Vệ, Ngài đã nhìn thấy ba cảnh tượng rất đỗi bình thường đối với những người khác: cảnh tượng đó là một người bị bệnh, một người già yếu, và một xác chết đang được đưa đi hỏa thiêu. Ngài chưa bao giờ được chuẩn bị tâm lí hay bất cứ điều gì để chứng kiến những cảnh bi thảm như thế, cho đến khi người đánh xe nói với Ngài rằng tất cả mọi người đều phải chịu sự già yếu, bệnh tật và chết chóc. Từ khi nghe được câu chuyện từ người đánh xe, Ngài cảm thấy mình không thể nào an tâm sống trong sự xa hoa như trước được nữa.

Trên con đường dẫn lối trở về cung điện, Ngài đã trông thấy một tu sĩ đang đi một cách thong dong trên đường phố, vào thời điểm ấy, Ngài- Hoàng tử Tất- Đạt – Đa đã quyết định rời khỏi cung điện để tự bản thân mình đi tìm giải pháp cho những vấn đề đau khổ của cuộc đời.

Bỏ lại sau lưng thân phụ, vợ con, Tất Đạt Đa quyết chí tu hành khi tuổi đời mới ở tuổi 29.

Dùng bát cháo sữa của nàng Su Dà Ta, nhận bó cỏ Kiết tường của người nông phu, đi thẳng tới Bồ Đề Đạo Tràng, Bồ tát Tất Đạt Đa kiên quyết ngồi thiền định dưới cội Bồ đề 49 ngày đêm cho tới khi thành chánh quả. Ngài thực tập thiền định từ thấp tới cao, quán niệm hơi thở ra vào đều đặn.

Vào đêm thứ 49 ấy, ở canh đầu, Bồ Tát chứng Túc Mạng Minh, biết rõ nhân quả nhiều đời trước của Ngài; vào canh giữa, Ngài chứng Thiên Nhãn Minh, biết rõ nghiệp báo nhiều đời trước của chúng sinh;  và canh cuối, khi sao mai vừa mọc, Ngài chứng Lậu Tận Minh, giác ngộ viên mãn. Cuối cùng, Bồ tát thành Phật hiệu là Thích Ca Mâu Ni lúc 35 tuổi.

Khi các đệ tử của Đức Phật càng ngày càng đông, Đức Phật động viên và khuyên bảo các các đệ tử hãy đi nhiều nơi để truyền bá chánh pháp và cứu độ chúng sinh, đem sự tu tập, an lạc và hạnh phúc của tự thân để giáo hóa những người cơ cực.
Về sau, Đức phật giáo hóa rất nhiều hạng người khác nhau như các vua quan, quần thần, thương gia, tôi tớ, thậm chí những kẻ hốt phân, kẻ sát nhân và kỹ nữ. Những ai có đủ duyên học, hiểu, thực hành, và ứng dụng Phật pháp vào trong đời sống hằng ngày của mình một cách lương thiện và tỉnh táo, thì họ có thể đem lại an lạc và hạnh phúc đích thực cho bản thân và cho những người khác trong cuộc sống này.

Các đệ tử của Đức Phật Thích Ca chủ yếu bao gồm những người xuất gia và tại gia. Cả hai chúng này đều hỗ trợ với nhau là yếu tố then chốt để đưa đạo Phật đi vào cuộc đời và giúp đời bớt đi cực khổ.

Tuổi thọ của Ngài là 80 tuổi, khoảng năm 544 trước Công Nguyên, Đức Phật nhập diệt tĩnh lặng, nằm nghiêng mình về hông phải, chân trái trên chân phải duỗi thẳng, đầu quay về hướng Bắc dưới hai cây song thọ tại rừng Sa La tại quận Câu Thi Na thuộc Ấn Độ ngày nay.

 Ý nghĩa tên gọi của Phật Thích Ca Mâu Ni.

Đức Phật Thích Ca Mâu Ni có tên khi chưa xuất gia tu Phật là Kiều Đạt Ma.Tất Đạt Đa.

Kiều Đạt Ma là họ của họ của mẹ của Ngài lúc bấy giờ, Ngài mang họ mẹ là vì truyền thống của người Ấn là chế độ Mẫu hệ. Kiều Đạt Ma hiểu theo nghĩa tiếng Phạn thì đó là chỉ sự nhân hậu, hiền lành mang những ý nghĩa tốt đẹp.

Tất Đạt Đa là tên của Ngài, trong tiếng Phạn cái tên này có nghĩa là sự may mắn, mang hàm ý là “thành tựu hết thảy”, “hoàn thành trọn vẹn”.

Về sau, khi đã xuất gia và tu thành Phật thì mọi người trong nhân gian gọi Ngài là Thích Ca Mâu Ni, trong đó Thích Ca là bộ tộc của ngài. Trong tiếng Phạn, Thích Ca có nghĩa là văn võ song toàn. Mâu Ni là cách gọi tôn kính của người Ấn Độ cổ đại đối với các bậc Thánh nhân, đó là sự chỉ những người cạo đầu xuất gia tu hành.

Sau khi Phật Thích Ca Mâu Ni đắc đạo, được các Phật tử xưng là Phật, Thế tôn, Phật Đà có ý chỉ người đã thông qua tu luyện mà giác ngộ.

Ngày vía Phật Thích Ca Mâu Ni.

Là một vị Phật công đức vô lượng nên Phật Thích Ca Mâu Ni được thờ phụng ở nhiều ngôi chùa lớn, nhỏ và còn được nhiều Quý Phật Tử thờ tại gia để cầu mong may mắn, bình an.

Trong Phật giáo có những ngày vía để kỉ niệm Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, đó là những ngày sau:

Ngày 8 tháng 2 âm lịch – Vía Phật Thích Ca xuất gia.

Ngày 15 tháng 2 âm lịch – Vía Phật Thích Ca nhập diệt.

Ngày 15 tháng 4 âm lịch – Vía Phật Thích Ca giáng sinh.

Ngày 8 tháng 12 âm lịch – Vía Phật Thích Ca thành đạo.

Tượng Phật Thích Ca Mâu Ni bằng bột đá vàng hổ phách đẹp.

                                         Tượng Phật Thích Ca Mâu Ni bằng bột đá vàng hổ phách đẹp.

Vào các ngày vía của Phật Thích Ca các Phật tử cũng như tất cả chúng ta nên làm nhiều hơn những việc thiện, những điều tốt đẹp , nên ăn chay niệm Phật, không sát sinh, không làm điều xấu, giữ tâm trong sạch, không nên có những suy nghĩ xấu.

Nhân ngày vía Phật Thích Ca hãy chuẩn bị lễ và đến chùa để cầu mong bình an, sức khỏe cho gia đình, người thân. Việc làm như vậy cũng là để tưởng nhớ đến Đức Phật.

Có nên thỉnh Phật về thờ tại nhà vào ngày vía Phật hay không ?

Câu trả lời cho câu hỏi trên là Có. Hơn nữa việc thỉnh Phật về thờ tại gia vào những ngày Vía Phật là vô cùng tốt.

Những lưu ý khi thờ Phật tại nhà để đem lại bình an và may mắn.

Khi xác định thờ Phật tại nhà thì cần chuẩn bị chu đáo, đầy đủ bàn thờ Phật và các đồ dùng cần thiết cho việc thờ Phật.

Sau khi đã chuẩn bị đâu vào đấy thì gia chủ nên đến cơ sở chuyên về tượng Phật để thỉnh cho mình vị Phật theo tâm nguyện.

Cần lưu ý là thỉnh Phật về thờ phải xuất phát từ tâm, chân thành, chân ý. Tuyệt đối không thờ Phật theo ý thích hay thờ Phật theo xu hướng những việc làm như vậy không xuất phát từ sự chân thành nên nó sẽ không có ý nghĩa tốt đẹp gì.

Bố trí bàn thờ Phật một cách hợp lí là điều vô cùng cần thiết đối với các gia đình thờ Phật. Sắp xếp bàn thờ hợp lí sẽ mang đến tài lộc và may mắn cho gia chủ.

Về hướng đặt bàn thờ Phật. Bàn thờ Phật là nơi tâm linh, thiêng liêng và trang nghiêm nhất nên vị trí đặt bàn thờ cần phải là những nơi cao ráo, trang nghiêm và yên tĩnh. Như thế mới có thể thể hiện được sự thành tâm, thành ý của gia chủ đối với Đức Phật. Cho nên tốt nhất là nên đặt bàn thờ Phật quay ra hướng cửa chính của gia đình, thông thoáng, thuận lợi cho việc đón nắng và gió hằng ngày.

Nên đặt bàn thờ ở gian phòng khách của gia đình, hoặc nếu có điều kiện tốt thì có thể có phòng thờ Phật riêng để có thể đảm bảo cho sự thanh tĩnh. Khi đặt bàn thờ Phật ở phòng khách thì cần đặt ở chính giữa, cao khỏi đầu và áp lưng vào tường chắc chắn. Lúc này bàn thờ sẽ quay mặt ra hướng cửa chính. Bố trí như vậy sẽ thuận tiện cho việc trông coi chăm sóc và lễ Phật hằng ngày. Và việc làm như vậy sẽ rất tốt cho vận khí của gia đình, sẽ đem đến những điều tốt lành cho gia chủ.Đèn thờ trên bàn thờ phải luôn được bật sáng để thu hút năng lượng tốt vào nhà.Trên bàn thờ cần được chuẩn bị đầy đủ lư hương, chén nước, đĩa hoa quả, bình hoa…

Những lưu ý khi thờ Phật tại gia.

Khi thỉnh tượng Phật về thờ, tốt nhất nên chọn tượng Phật được đúc bằng gỗ. Bởi lẽ, gỗ thuộc hành Mộc là một trong năm yếu tố tốt của Ngũ hành. Khi thờ cúng tượng Phật bằng gỗ trong nhà sẽ giúp ngôi nhà trở nên ấm áp và tạo cảm giác gần gũi, khiến cho bầu không khí trong gia đình trở nên thoải mái hơn.

Tuyệt đối không được đặt bàn thờ Phật quay mặt bàn thờ về hướng phòng ngủ, nhà ăn, nhà vệ sinh… không đặt bàn thờ Phật dưới chân cầu thang, nơi nhiều người qua lại, như thế là đại bất kính đối với Đức Phật. Đó là sự đại bất kính.

Trên bàn thờ Phật tuyệt đối không được để các vật khác, không được để bụi bẩn bao phủ, phải thường xuyên dọn dẹp để bàn thờ luôn được sạch sẽ. Không được để hoa khô héo, trái cây hư hỏng trên bàn thờ Phật và bàn thờ nói chung, đó là điều đại bất kính với Phật.

Hàng ngày nên thắp hương trên bàn thờ Phật vào thời điểm sáng, tối và phải đảm bảo hương còn mới, đồ cúng phải đảm bảo tươi, ngon.

Tuyệt đối không được đem tượng Phật đã hư hỏng ném bỏ đi, thậm chí là việc đem cất tượng Phật vào tủ kính hay hộp đem cất vào một góc nào đó trong nhà cũng không được, đó như là đang kìm hãm Phật, đó là phạm vào đại kỵ sẽ mang đến điều hung cho gia đình, khiến cho các thành viên trong gia đình thường xuyên bị ốm đau, bệnh tật .

Trên đây là chia sẻ của chúng tôi về Ngày Vía Phật Thích Ca và một số lưu ý khi thỉnh Phật về thờ tại gia. Chúc các bạn tinh tấn.

Chia sẻ cùng bạn bè

Leave a Reply

avatar
  Subscribe  
Notify of


Chat Zalo
Gọi điện ngay