Đức Phật Thích Ca và Đức Phật Như Lai có phải là cùng một người không ?

Đức Phật Thích Ca và Phật Như Lai là cùng một người.



Đức Phật Thích Ca và Phật Như Lai là cùng một người.

Đức Phật Thích Ca Mâu Ni và Phật Như Lai có phải cùng một người.

Đối với các Phật Tử thì các vị Phật đã không còn xa lạ nữa, tuy nhiên, không phải ai cũng có thể hiểu rõ được hết về cuộc đời, nguồn gốc của các vị Phật ấy. Như đã biết, Phật Thích Ca Mâu Ni là người sáng lập ra Phật giáo, dẫn dắt chúng sinh thoát kiếp lầm than, Ngài có công lượng vô biên đối với chúng sinh. Nhưng, không phải ai cũng hiểu rõ về Ngài, vẫn có nhiều người còn thắc mắc không biết là Phật Như Lai và Thích Ca Mâu Ni có phải là cùng một người hay không, hay là đây là hai vị Phật khác nhau. Thấu hiểu sự băn khoăn của nhiều người, chúng tôi đã viết bài viết sau để giải đáp thắc mắc của các bạn. Hãy cùng theo dõi bài viết để hiểu rõ hơn về Phật Thích Ca nhé.

Đầu tiên, chúng tôi xin khẳng định rằng: Phật Như Lai và Phật Thích Ca Mâu Ni là cùng một người, cái tên Phật Như Lai đấy là một danh xưng khác của Phật Thích Ca Mâu Ni.

Cuộc đời Phật Thích Ca Mâu Ni trước khi xuất gia.

Trước tiên cần khẳng định rằng, Phật Thích Ca Mâu Ni hay còn gọi là Phật Như Lai là một vị Phật có thực, Ngài là người sáng lập ra Phật giáo. Theo lịch sử ghi chép lại thì Phật Thích Ca chính là Hoàng tử Tất- Đạt- Đa Cồ Đàm của vương quốc Thích Ca, thuộc Ấn Độ ngày nay, là con của Vua Tịnh Phạn và Hoàng Hậu Ma Da.

Năm sinh và năm mất theo lịch hiện đại của ông không thể xác định được một cách chính xác và không được ghi nhận rõ, dao động trong khoảng năm 624 trước Công Nguyên tới năm 563 trước Công Nguyên. Tuy nhiên, đại hội Phật giáo thế giới chung ý kiến thống nhất rằng Tất-Đạt-Đa được sinh ra vào khoảng năm 624 trước Công Nguyên và qua đời ở độ tuổi 80, tức là mất vào khoảng năm 544 trước Công Nguyên.

Cha ông là Vua Tịnh Phạn, người đứng đầu tiểu Vương quốc Thích-ca, một tiểu quốc nằm ở vùng biên giới Ấn Độ- Nepal ngày nay. Mẹ ông là công chúa Ma-Da, người tiểu quốc Koli láng giềng.

Trước khi vị Hoàng tử này được sinh ra thì các tu sĩ Ấn Giáo đã đưa ra lời tiên tri rằng Ngài sẽ trở thành một vị vua vĩ đại, hoặc là sẽ trở thành một vĩ nhân lừng danh thế giới loài người. Và khi biết lời tiên tri đó thì cha của Tất – Đạt – Đa, vì không muốn con trai mình sẽ trở thành tu sĩ nên đã làm đủ mọi cách để giữa Ngài ở lại trong cung điện.

Sau khi được sinh ra, Hoàng tử Tất- Đạt- Đa lớn lên trong bao bọc, xa hoa đúng nghĩa của một bậc vua chúa, Ngài không được phép nhìn thấy thế giới bên ngoài, được các vũ nữ giúp vui, và được các tu sĩ Bà La Môn dạy học. Khi đến tuổi trưởng thành, Hoàng tử kết hôn với công chúa Gia Du Đà La và có một cậu con trai.

Bức thành hoàng cung không thể ngăn cản được sự tò mò của Ngài về thế giới bên ngoài, sự hiếu kì, tò mò ấy đã lôi kéo Ngài ra với thế giới giới rộng lớn bên ngoài hoàng cung.

Ở ngoài đó, trên những đường phố của kinh thành Ca Tỳ La Vệ, Ngài đã nhìn thấy ba cảnh tượng rất đỗi bình thường đối với những người khác: cảnh tượng đó là một người bị bệnh, một người già yếu, và một xác chết đang được đưa đi hỏa thiêu. Ngài chưa bao giờ được chuẩn bị tâm lí hay bất cứ điều gì để chứng kiến những cảnh bi thảm như thế, cho đến khi người đánh xe nói với Ngài rằng tất cả mọi người đều phải chịu sự già yếu, bệnh tật và chết chóc. Từ khi nghe được câu chuyện từ người đánh xe, Ngài cảm thấy mình không thể nào an tâm sống trong sự xa hoa như trước được nữa.

Trên con đường dẫn lối trở về cung điện, Ngài đã trông thấy một tu sĩ đang đi một cách thong dong trên đường phố, vào thời điểm ấy, Ngài- Hoàng tử Tất- Đạt – Đa đã quyết định rời khỏi cung điện để tự bản thân mình đi tìm giải pháp cho những vấn đề đau khổ của cuộc đời.

Bỏ lại sau lưng thân phụ, vợ con, Tất Đạt Đa quyết chí tu hành khi tuổi đời mới ở tuổi 29.

Cuộc đời Phật Thích Ca sau khi Xuất Gia tu hành.

Tượng Thích Ca Mâu Ni

Tượng Thích Ca Mâu Ni

Xuất gia tu hành vào năm 29 tuổi, học đạo với hai vị đạo sĩ Alara – Kalama và Uddaka – Ramaputta, Ngài đã trải qua 6 năm tu khổ hạnh với 5 anh em của ông Kiều Trần Như, thấy lối tu và sự chứng đạo của họ thiên kiến, thái tử quyết định chọn cho mình lối tu không tham đắm dục lạc và không khổ hạnh ép xác, tức hướng đi Trung Đạo với con đường Thánh có tám làn xe chạy: Chánh Kiến, Chánh Tư Duy, Chánh Ngữ, Chánh Nghiệp, Chánh Mạng, Chánh Tinh Tấn, Chánh Niệm, và Chánh Định.

Dùng bát cháo sữa của nàng Su Dà Ta, nhận bó cỏ Kiết tường của người nông phu, đi thẳng tới Bồ Đề Đạo Tràng, Bồ tát Tất Đạt Đa kiên quyết ngồi thiền định dưới cội Bồ đề 49 ngày đêm cho tới khi thành chánh quả. Ngài thực tập thiền định từ thấp tới cao, quán niệm hơi thở ra vào đều đặn.

Vào đêm thứ 49 ấy, ở canh đầu, Bồ Tát chứng Túc Mạng Minh, biết rõ nhân quả nhiều đời trước của Ngài; vào canh giữa, Ngài chứng Thiên Nhãn Minh, biết rõ nghiệp báo nhiều đời trước của chúng sinh;  và canh cuối, khi sao mai vừa mọc, Ngài chứng Lậu Tận Minh, giác ngộ viên mãn. Cuối cùng, Bồ tát thành Phật hiệu là Thích Ca Mâu Ni lúc 35 tuổi.

Sau khi Bồ Tát thành Phật, Phạm thiên Sahampati thưa thỉnh đức Phật ba lần để đi hoằng pháp và giáo hóa chúng sinh. Đức Phật đồng ý những lời thỉnh mời của Phạm thiên, và tìm đến hai vị đạo sĩ trước đây, cả hai vị đều qua đời. Đi đến vườn Lộc Uyển ở Sarnath, đức Phật nói bài Pháp đầu tiên cho năm người bạn đồng tu. Cả năm người này đều thấm nhuần diệu pháp và chứng quả A La Hán. Phật, PhápTăng được hình thành tại đây.

Khi các đệ tử của Đức Phật càng ngày càng đông, Đức Phật động viên và khuyên bảo các các đệ tử hãy đi nhiều nơi để truyền bá chánh pháp và cứu độ chúng sinh, đem sự tu tập, an lạc và hạnh phúc của tự thân để giáo hóa những người cơ cực.

Về sau, Đức phật giáo hóa rất nhiều hạng người khác nhau như các vua quan, quần thần, thương gia, tôi tớ, thậm chí những kẻ hốt phân, kẻ sát nhân và kỹ nữ. Những ai có đủ duyên học, hiểu, thực hành, và ứng dụng Phật pháp vào trong đời sống hằng ngày của mình một cách lương thiện, tỉnh táo, thì họ có thể đem lại an lạc và hạnh phúc đích thực cho bản thân và cho những người khác trong cuộc sống này.

Các đệ tử của Đức Phật Thích Ca chủ yếu bao gồm những người xuất gia và tại gia. Cả hai chúng này đều hỗ trợ với nhau là yếu tố then chốt để đưa đạo Phật đi vào cuộc đời và giúp đời bớt đi cực khổ.

Trước khi nhập Niết Bàn, đức Phật khuyên dạy các đệ tử: “Hỡi các đệ tử! Các pháp hữu vi đều vô thường và biến đổi. Các vị hãy tinh tấn tu học và thực hành phật pháp nhiều hơn nữa để đem lại an vui và hạnh phúc cho tự thân và cho tha nhân. Đây là những lời giáo huấn tối hậu của Ta cho các người.” (Xem Trường Bộ – Kinh Đại Bát Niết Bàn II số 16).

Tuổi thọ của Ngài là 80 tuổi, khoảng năm 544 trước Công Nguyên, Đức Phật nhập diệt tĩnh lặng, nằm nghiêng mình về hông phải, chân trái trên chân phải duỗi thẳng, đầu quay về hướng Bắc dưới hai cây song thọ tại rừng Sa La tại quận Câu Thi Na thuộc Ấn Độ ngày nay.

Như đã nói ở trên, Phật Như Lai – một tên hiệu của Phật Thích Ca. Như Lai được dịch từ chữ Tathagata trong tiếng Phạn. “Như” là để chỉ cái gọi là chân lí tuyệt đối, chân tướng của sự thật; còn “Lai” nghĩa là đến, Như Lai có nghĩa là những người đến bằng con đường chân thực, những người đã hiểu rõ chân lý. Đức Phật Thích Ca Mâu Ni là một trong số những con người đến bằng con đường như vậy nên gọi Như Lai.

 

 

 

 

 

 

Chia sẻ cùng bạn bè

Leave a Reply

avatar
  Subscribe  
Notify of


Chat Zalo
Gọi điện ngay